Triệu Phong – Bước đường xây dựng quê hương mới

Triệu Phong là một huyện còn nhiều khó khăn của tỉnh Quảng Trị. Cái khó khăn của huyện năm ở chỗ không phải bởi Triệu Phong không thể mà là Triệu Phong chưa có điều kiện để phát triển đi lên. Nhận rõ điều này nhân dân Triệu Phong đang từng ngày từng giờ nỗ lực tìm hướng đi mới xây dựng quê hương. Triệu Phong có 18 xã và huyện lỵ. Ái Tử cách thị xã tỉnh kỵ 8km về phía Bắc cách thị xã Quảng Trị 5km về phía Nam. Phía Đông huyện Triệu Phong giáp biển Đông phía Tây giáp huyện Đakrông phía Nam giáp huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị phía Bắc giáp huyện Gio Linh và thị xã Đông Hà.



Làng sinh thái ven biển huyện Triệu Phong

 

 

Huyện có 3 vùng địa lý tự nhiên: biển đồng bằng và gò đồi. Địa hình của huyện tương đối bằng phẳngm có hương nghiêng từ Tây sang Đông. Huyện có bờ biển dài 18km có cảng Cửa Việt ở tả ngạn cửa sông Hiếu tàu 2000-3000 tấn ra vào được. Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam chay qua trung tâm thị trấn huyện lỵ. Với đặc điểm vị trí địa lý như vây Triệu Phong có lợi thế trong phát triển các mối quan hệ giao lưu kinh tế văn hóa xã hội với các vùng trong tỉnh và khu vực.

TRiệu Phong năm trong dải đất miền Trung nên cũng mang những nét đặc trưng về thời tiết của vùng: Khí hậu nhiệt đới gió mùa ở trung tâm khu vực gió Lào và có 2 mùa rõ rệt; Mùa hè gió Tây Nam khô nóng từ tháng 3 tháng 8; Mùa đông có gió mùa Đông Bắc ẩm ướt kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 24-25oC cao nhất là vào tháng 6-7 thấp nhất là vào tháng 1-2. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.500 - 2.700mm cao hơn mức trung bình của cả nước tập trung chủ yếu vào tháng 9 10 và 11.

Triệu Phong có 35 492ha diện tích đất tự nhiên chiếm 75% diện tích toàn tỉnh trong đó 9.358ha sử dụng vào sản xuất nông nghiệp 9.845ha sử dụng cho lâm nghiệp 2.900ha đất chuyên dùng và 442 2ha đất ở. Diện tích đất chưa sử dụng của huyện còn khá lớn 12.857ha (chiếm 36 2%) trong đó: có 9.460ha có khả năng cho sản xuất phát triển nông lâm nghiệp. Đất đai ở huyện Triệu Phong được chia thành 3 vùng với đặc điểm khác nhau:

- Vùng gò đồi: Gồm 3 xã và một thị trấn có diện tích 18.131ha (chiếm 81 1% diện tích toàn huyện) trong đó được sử dụng vào nông nghiệp 1.837ha; lâm nghiệp hơn 8.467ha; đất chuyên dùng và đất ở 850ha. Thổ nhưỡng chủ yếu là loại đất Feratit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch. Diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn 6.976 3ha trong đó 540ha có khả năng phát triển nông nghiệp khả năng lâm nghiệp 5.300ha chủ yếu là đồi trọc.

- Vùng đất đồng bằng: Đây là vùng có diện tích tự nhiên lớn nhất 13.624ha (chiếm 38 8% toàn huyện) gồm 12 xã gồm các loại đất chính là đất thịt nhẹ và đất cất nội đồng. Đất đang sử dụng vào nông nghiệp 6.536ha (chủ yếu là đất trồng lúa 4.478 3ha và một số cây hoa màu cây công nghiệp ngắn ngày) lâm nghiệp 739 7ha. Diện tích chưa sử dụng còn 4.190ha chủ yếu là cát trắng và cát nội đồng thích hợp vho các loại cây hoa màu có thể sử dụng được 900ha; ngoài ra còn gần 300ha mặt nước có khẳ năng nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao đặc biệt nuôi tôm sú xuất khẩu. Sản xuất nông nghiệp chủ động được tưới nước nên năng suất ngày càng tăng.

- Vùng biển: Có diện tích là 3.737ha chủ yếu là cồn cát và cát nội đồng; đang được sử dụng cho đất nông nghiệp là 985ha lâm nghiệp 638ha. Còn khoảng 1.690ha chưa sử dụng chủ yếu là cồn cát có thể sự dụng vào trồng cây lâm nghiệp. Dân cư ở vùng này chủ yếu sống bằng nghề biển.

Huyện Triệu Phong có lượng mưa trung bình hàng năm là 2.500mm cho trữ lượng nước trung bình trên t tỷ m3. Tuy nhiên do tính chất không đồng đều nên mùa mưa thì lũ lụt mùa hè thì khô hạn. Trên địa bàn chủ yếu có hệ thống sông Thạch Hãn chảy qua với chiều dài 150km và các nhánh sông của sông Hiếu sông Vĩnh Phước sông Nhùng sông Rào Quán; diện tích toàn bộ lưu vực khoảng 2500km2 các sông này cung cấp phù sa nước tưới và vận tải đường sông.

Nguồn nước ao hồ rất có ý nghĩa trong việc trữ nước phục vụ cho sản xuất và dân sinh cải tạo môi trường gồm: đập dâng nam Thạch Hãn đập ngăn mặn Việt Yên các hồ Triệu Thượng 1 Gia Chám Ái Tử ... Các nguồn nước ngầm khá phong phú nhưng vùng ven biển bị nhiễm mặn nặng các vùng khác hầu hết bị phân hóa...

Cùng với nguồn tài nguyên nước khá phong phú huyện Triệu Phong còn có diện tích rừng khá lớn. Hiện tại huyện Triệu Phong có khoảng 1.180ha rừng tự nhiên thuộc loại rừng nghèo. Trong đó rừng sản xuất 310ha rừng phòng hộ cát ven biển và rừng phòng hộ đầu nguồn nam Thạch Hãn 870ha. Rừng trồng đến nay có 8.665ha tập trung ở vùng đồng đồi và vát ven biển. Chủ yếu rừng mới trồng 5-7 năm chủ yếu rừng phòng hộ bảo vệ môi trường môi sinh.

Huyện có lợi thế đường biển dài 18km ngư trường đánh bắt rộng và không bị giới hạn trong phạm vi lãnh thổ địa phương. Trong vùng biển có nhiều loại thủy hải sản quý và thường xuyên được bù đắp. Lới thế của huyện là có một cửa lạch lớn (Cửa Việt) đã xây dựng cảng cá và khu hậu cần dịch vụ nghề cá. Ngoài ra toàn huyện có gần 700ha diện tích mặt nước ao đầm nước lợ có khả năng nuôi trồng thủy sản.

Mặc dù có trong tay những tài sản quy nhu vây nhưng trong hiêu năm do điều kiện chiến tranh thiên tai và đặc biệt thiếu các nguồn ngoại lực tác động nên hyện vẫn là một huyện nghèo. Những ngày đầu mới tái lập năm 1990 bức tranh kinh tế - xã hội của huyện có thể khái quát ở hai đặc điểm: xuất phát điểm rất thấp và cơ sở hạ tầng chưa có gì. Hơn 132 làng không còn nguyên vẹn do hậu quả chiến tranh để lại thiên tai dồn dập Triệu Phong lúc đó đối mặt với đói nghèo tụt hậu khá lớn so với các huyện khác trong tỉnh.

Phát huy truyền thống ngoan cường cần cù sáng tạo khơi dậy những nguồn sức mạnh của con người Triệu Phong đx dựa vào nội lực và tranh thủ ngoại lực lựa chọn bước đi cách làm phù hợp từng bước bứt phá đi lên. Đội ngũ lãnh đạo ở đây đã xác định đúng hướng đi của huyện đó là: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn khai thác tiềm năng thế mạnh vùng gò đồi hồi sinh vùng cát van biển. Khơi đúng nguồn mạch Triệu Phong đã dần mở hướng đi lên. Hiện tại huyện Triệu Phong đã đạt tôc độ tưng trưởng bình quân hàng năm 7 8% (2002).

Đời sống nhân dân ổn đinh hiện tại chỉ còn 13 2% hộ nghèo không còn hộ đói hộ khá giàu tăng lên 21% năm 2002. Đời sống gia đình chính sách được cải thiện đáng kể. Nhu cầu đời sống cơ bản đã đáp ứng. 100 số xã và 97% số hộ được sử dụng điện 100% số hộ có phương tiện nghe nhìn 96% số nhà ở kiên cố và bán kiên cố. Tỷ lệ hộ sử dụng điện thoại là 1 4 máy/ 100 dân.

Nông nghiệp ngay từ ban đầu đã được xác định là ngành kinh tế trọng điểm của huyện hàng năm đạt giá trị sản lượng bình quân 188 tỷ đồng trong đó trồng trọt chiếm 71% chăn nuôi 27% dịch vụ nông nghiệp 2%. Năm 2002 tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm của huyện là 14.6969ha trong đó chủ yếu là lúa: 10.015ha năng suất 52tạ/ha. Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người: 497kg. Cây hoa màu cây công nghiệp cũng được chú trọng phát triển. Chăn nuôi phát triển theo hộ gia đình gồm trâu bò lợn và gia cầm.

Năm 2002 giá trị sản lượng lâm nghiệp huyện đạt 11 2 tỷ đồng. Hàng năm trồng mới khoảng 600 - 1000ha rừng phòng hộ. Gieo ươm 17 vạn cây con và khai thác gỗ củi là chủ yếu.

Tận dụng ưu thế sẵn có những năm gần đây hoạt động đánh bắt nuôi trồng thủy hải sản của Triệu Phong phát triển khá rầm rộ và được coi là một ngành mũi nhọn của huyện. Năm 2002 huyện có 4.570 lao động với 9.140 nhân khẩu sống bằng nghề đánh cá biển. Ngoài ra còn nuôi trồng 225ha chủ yếu nuôi tôm và các nước ngọt cho sản lượng 150 tấn.

Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Trên địa bàn quy mô nhỏ sản xuất phân tán sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa các ngành chủ yếu như cơ khí gò hàn mộc dân dụng gia công chế biến nông sản thực phẩm. Vơi 1.893 lao động giá trị sản lượng đạt bình quân 15.394 triệu đồng. Thương mại dịch vụ đảm bảo cho sản xuất và tiêu dùng trong dân cư. Hoạt động tín dụng được mở rộng và thuận lợi với 2 hợp tác xã và 3 chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn.

Cùng với việc phát triển về các lĩnh vực kinh tế việc đầu tự xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện được đặc biệt coi trọng. Với quan điểm có một hệ thống hạ tầng cơ sở đồng bộ để thúc đẩy cuốn hút đầu tư vào địa bàn hằng năm giá trị xây dựng cơ bản bình quân đạt mức 48 5 tỷ. Chủ yếu vốn của Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế và phục vụ phúc lợi. Huyện đã tranh thủ được nhiều dự án trong và ngoài nước tập trung cho công tác đầu tư xây dựng. Sau hơn 15 năm đổi mới cơ sở hạ tầng nông thôn Triệu Phong ngày một hoàn thiện hơn bước đầu cơ bản đã tạo đà cho quá trình chuyển dịch. Về thủy lợi Công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn bảo đảm nước tưới cho Triệu Phong một cách chủ động 4.280ha canh tác lúa và 1000ha màu rau đậu các loại chủ yếu là vùng đồng bằng. Ngoài ra còn một số hồ đập nhỏ vùng gò đồi: Hồ Ái Tử II Triệu Thượng I Gia Chám phục vụ cho 1.100ha trồng trọt vùng này.

Sông Vĩnh Định bổ sung nguồn nước tưới cho vùng đồng bằng vào những thời điểm hạn cao độ. Đập ngăn mặn Việt Yên phục vụ ngăn mặn giữ ngọt cho vùng cuối kênh Nam Thạch Hãn.

Toàn bộ hệ thống kênh mương công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn với 41 3km kênh chính cấp I cấp II; ngoài ra còn có 55 trạm bơm điện và 219 máy bơm nước phục vụ tưới cho 13.200ha diện tích gieo trồng của huyện.

Hệ thống xí nghiệp trạm trại: lâm trường Triệu Hải là hạt nhân cho phát triển lâm nghiệp xí nghiệp lơnk giống Triệu Hải với quy mô lớn có thể đáp ứng nguồn giống tốt cho nhu cầu trên địa bàn. Xí nghiệp chế biến hải sản Cửa Việt quy mô 300 công nhân mới được xây dựng. Hệ thống dịch vụ thú y bảo vệ thực vật khuyến nông khuyến ngư cũng được tổ chức thành mạng lưới từ huyện đến cơ sở.

Hệ thống điện đường trường trạm phải nói sau 15 năm gần như xây dựng mới hoàn toàn. Mạng lưới điện đã trải khắp các vùng nông thôn với 91 trạm biến áp công suất 10.060KVA. Ngoài hệ thống đường dây 22KV và đường dây 110KV đi qua 3 xã gò đồi 2 tuyến 35KV từ tỉnh lỵ đi Bồ Bản và Quảng Trị.

Mạng điện thoại trên địa bàn tiếp tục phát triển và mở rộng. Đến nay 100% số xã đã có máy điện thoại có 15 điểm bưu điện văn hóa ở 15 xã... Năm 2002 toàn huyện có 1.575 máy đạt tỷ lệ 1 5 máy/ 100 dân.

Hệ thống đường giao thông được mở rộng kéo dài và nâng cấp. Toàn bộ 19 xã thị trấn đều có đường ô tô đến trung tâm xã có hệ thống đường ven biển đường quốc lộ 1A đi ngang qua khu trung tâm huyện lỵ đường sông cảng biển bến đò bến xe ... Số km đường tỉnh lỵ đều được nhựa hóa 44km đá dăm 16km còn lại là đường cấp phối toàn bộ. Giao thông nông thôn trong từng thôn xóm đã được bê tông hóa 28km. Đã hình thành 9 tuyến đường ra vùng cát với tổng chiều dài 23km bằng cấp phối.

Dù còn nhiều khó khăn nhưng không vì thế mà Triệu Phong không dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề phát triển văn hóa - xã hội. Nhờ đó cùng với sự phát triển về kinh tế huyện đã đạt được nhiều tiến bộ cơ bản trên các lĩnh vực này. Năm 2002 số trường học xây dựng mới và nâng cấp rất nhiều khang trang. Số trường học cao tầng 33/39 trường. Phòng học kiên cố 236/572 phòng còn lại 291 phòng học bán kiên cố. Giải quyết đủ phòng học cho học sinh. Ngành học mầm non được chú trọng đã có 159/250 phòng bán kiên cố. Tuy là một huyện còn nghèo song Triệu Phong tự hào là một huyện được công nhận phổ cập tiểu học sớm nhất tỉnh có 8 xã phổ cập THCS và huyện đã phấn đấu trở thành huyện phổ cập THCS trong năm 2003. Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh. Hàng năm thu hút gần 27.000 học sinh và các lớp phổ thông và 150 học viên bổ túc văn hóa.

Các thiết chế văn hóa bước đầu xây dựng nhà văn hóa trung tâm nhà thiếu nhi nhà truyền thống của huyện sân vận động trung tâm 100% xã có sân vận động hoặc trung tâm sinh hoạt văn hóa thể dục thể thao. Cơ sở hạ tầng khác cũng được đầu tư xây dựng như chợ trụ sở làm việc điện chiếu sáng ...

Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đã phát triển rộng khắp với 100% số xã có trạm y tế có 14 xã có bác sỹ chiếm 73 6%. Toàn huyện có 20 trạm xá được xây dựng kiên cố với diện tích 2.400m2 và 3 phòng khám đa khoa khu vực một trung tâm y tế tương đối hiện đại. Công tác phòng chống dịch bênh được đảm bảo các chương trình y tế được triển khai có hiệu quả công tác chăm sóc bảo vệ bà mệ trẻ em được chú trọng. Các hội đoàn thể phát triển mạnh và tích cực góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Công tác chính sách xã hội được đảm bảo. Phong trào đền ơn đáp nghĩa được thực hiện với cả tấm lòng biết ơn uống nước nhớ nguồn. Bằng nhiều hình thức huyện Triệu Phong đã huy động được 1 56tỷ đồng và đầu tư xây dựng mới 194 nhà tình nghĩa năm 2002 các gia đình chính sách không còn nhà tạm. Caông tác xóa đói giảm nghèo được đẩy mạnh góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 15 7%. Qua 7 năm (1995-2002) thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đã có 72 làng hưởng ứng phát động và 26 làng đã được công nhận với tổng số 4.820 giai đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa.

Đến cuối năm 2002 dâ số toàn huyện có 107.020 người dân số thành thị chiếm 2 5% nông thôn chiếm 97 5%. Triệu Phong có dân số trẻ. Những năm gần đây đang có sự phân bố lại dân cư giữa vùng gò đồi và đồng bằng bằng việc xây dựng vùng kinh tế mới và lập trang trại dãn dân vùng cát. Dân số sống vùng nông thôn chủ yếu thu nhập bằng nông nghiệp. Qua số liệu điều tra năm 2001 cho thấy dân số nông thôn Triệu Phong có 78 06% sống bằng Nông - Lâm - Ngư - Nghiệp 6 7% từ công nghiệp xây dựng; 9 09% từ dịch vụ và 6 11% từ các ngành nghề khác và cơ cấu này nhìn chung qua 5 năm tốc độ chuyển dịch chậm theo hướng công nghiệp - dịch vụ.

Trong năm 2002 huyện Triệu Phong đã thực hiện các dự án phát triển nông thôn vùng ven biển đó là: Trại sản xuất tôm giống Triệu Lăng và mô hình Làng sinh thái.

Trại sản xuất tôm giống Triệu Lăng: Năm 2002 Triệu Phong có hang ngàn ha cát hoang hóa ven biển có thể chuyển đổi thành đất sản xuất và hồ nuôi tôm cho giá trị kinh tế cao. Trong thời gian đó một số gia đình đã mạnh dạn tự đầu tư cải tạo thành hồ nuôi tôm và nuôi tôm mang lại hiệu quả rõ rệt. Tuy nhiên việc cung cấp tôm giống gặp nhiều khó khăn về chi phí vận chuyển giá cả không chủ động được nguồn... Bắt nguồn từ thực tế đó Triệu Phong đang xây dựng một trại sản xuất tômg giống ở xã Triệu Lăng với diện tích 4 6ha áp dụng quy trình công nghệ sản xuất tôm giống hiện đại nhất vào thời kỳ đó. Trai cho sản lượng bình quân hằng năm: 50triệu con tôm giống PL­10-15 10 triệu con tôm giống 1-2cm và mô hình trình diễn nuôi tôm thịt khoảng 600.000 con và sự kiến sẽ hoàn thành vào đầu quý 4 năm 2003.

Có thể nói bức tranh kinh tế - xã hội của Triệu Phong tuy chưa thật sự nổi bật nhưng đã là một mảng sáng đạm sắc màu về một vùng kinh tế đi lên từ nội lực. Trong nông nghiệp tiềm năng đã được đánh thức trên mảnh đất đã từng bị cày xới bởi bom đạn chiến tranh và cái khô cằn nắng gió miền Trung.

Theo CLB Quảng Trị tại Hà Nội