Trò chuyện với Hiền Lương

IMG_4964-1-1.jpg picture by nguyenlason

Hai chiếc cầu Hiền Lương cùng in bóng mình xuống dòng Hiền Lương trong bóng nước không thể phân biệt đâu là cầu bê tông đâu là cầu bằng sắt. Cả hai bóng hai cầu đều xao động trong sóng nước cùng chụm đầu vào phía bờ Bắc thành hình chữ V đậm nét... Tôi đang đứng ở Hiền Lương tháng Tư năm hai ngàn lẻ năm.

...Bên ven bờ Hiền Lương chiều nay ra đứng trông về mây lặng lờ trôi... Phải đến bây giờ sau hơn bốn mươi năm kể từ ngày nhạc sĩ Hoàng Hiệp ôm cây đàn măng-đô-lin hát bài Câu hò bên bến Hiền Lương nổi tiếng mây vẫn lặng lờ trôi...

Những áng mây tinh khôi phiêu bồng như những bóng thuyền trôi bất tận giữa bầu trời tháng Tư tôi thấy lòng mình nôn nao hoài niệm. Nỗi hoài niệm bé con của tôi ấy chắc cũng chỉ là một nét trầm tư của người lính nơi tượng đài Người lính giữ cầu Hiền Lương hôm nay. Chỗ ấy ngày xưa là nền móng cũ của Nhà liên hợp được xây dựng trong mong muốn thống nhất hai miền Nam - Bắc theo tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954.

"Nhà liên hợp" không được dùng đến vì âm mưu chia cắt đôi bờ vĩnh viễn của Mỹ Diệm. Thế là người Việt Nam đành phải làm cuộc kháng chiến trường kỳ suốt hai mươi mốt năm thống nhất Tổ quốc. Sau ngày toàn thắng có đám rước dâu qua cầu Hiền Lương nhà thơ Cảnh Trà đã rung động mà viết lên một bài thơ dài:
"...
Cầu vừa mới bắc xong sơn còn tươi roi rói
Đôi bờ xanh lúa mới đã ngậm đòng
Nhìn hai họ qua cầu mà nước mắt rưng rưng
Mà sung sướng vui như đàn trẻ nhỏ
Chàng trai Vĩnh Linh cưới cô gái đất Cùa Cam Lộ
Sông tưng bừng nhìn đôi lứa thương nhau
Gió lâng lâng sóng vỗ chân cầu
Mà thắt ruột câu hò xưa tê tái
"Bước đến Hiền Lương sao chặng đường nghẹn lại
Đáo tới bờ Bến Hải sao gác mái tình duyên..."
Đám cưới hôm nay cũng tự nhiên như là hoa là lá
Như là chị lấy chồng như là tôi lấy vợ
Mà hay chưa bỡ ngỡ như chiêm bao
Tôi nhìn sông nghe sông chảy rì rào...".


Tôi nhìn sông sông vẫn chảy rì rào... Không biết từ thế kỷ XI xa xưa khi Lý Thường Kiệt ruổi ngựa vào Nam vẽ bản đồ Đại Việt nơi miền địa đầu Tổ quốc Người đã lội qua sông Hiền Lương ở quãng nào? Thuở ấy sông có như bây giờ có rì rào những gợn sóng con bé nhỏ theo đầu ngọn Nồm ngọn Nam mát rượi từ Cửa Tùng dào dạt vờn lên? Nhưng từ thuở ấy sông Hiền Lương đã chính thức nằm ngoan hiền trong bản đồ nước Đại Việt một dòng sông nhỏ gầy... Tôi dám chắc điều ni là khi Người đưa nét vẽ cuối cùng lên tấm lụa điều tạc hình hài dòng Hiền Lương thì Người cũng không thể ngờ rằng trong nhiều thế kỷ nữa dòng sông nhỏ gầy nớ phải đắm mình trong nhiều cơn binh đao lửa khói máu người nhuộm đỏ cả dòng sông...

Đến thế kỷ XVII thời Trịnh Nguyễn phân tranh sông Hiền Lương lại trở thành chiến trường loạn lạc. Vợ mất chồng mẹ mất con giáo gươm rơi đầy nẻo đất. Bi thương!...

Nhưng còn bi thương hơn là cuộc chiến tranh cuối thế kỷ XX sông Hiền Lương thành vết dao chia cắt bao nhiêu gia đình tan hoang bao nhiêu người nằm xuống. Người Việt đau đớn đau đáu bờ bên ni trông qua bên tê bờ Hiền Lương...

Tôi lớn lên khi cuộc chiến tranh tàn khốc ấy đang vào hồi kết thúc. Người Việt đã qua sông trong một đêm không trăng năm 1973 trên chiếc cầu phao bộ đội công binh bắc tạm. Bấy giờ Hiệp định Paris đã có hiệu lực giới tuyến quân sự tạm thời được dời chuyển vào sông Thạch Hãn cách Hiền Lương 35 km ngăn cách một bên là Chính phủ cách mạng Miền Nam một bên là chế độ Sài Gòn. Dĩ nhiên khi đó tôi vẫn là một công dân bé nhỏ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Người qua sông nhiều quá tôi mở to đôi mắt bé con nhìn qua vai áo mẹ tôi đang bế mà ngắm nhìn từng đoàn người đoàn xe màu xanh lá cây những khẩu pháo nòng dài nườm nượp qua sông. Khi đó tôi chẳng hiểu gì đâu nhưng kỷ niệm đã khắc vào trí nhớ ngây thơ của tôi. Tôi cũng không thể ngờ rằng những chiếc trụ cầu bê tông còn sót lại giữa lòng sông ấy từng nâng đỡ một chiếc cầu sắt Be-lây giản dị. Trên cầu có 894 miếng ván; giữa cầu có vạch sơn trắng rộng 1cm. Vạch sơn ấy hiểu theo nghĩa hình ảnh chính là vĩ tuyến 17 chạy qua! Hơn hai mươi năm để người Việt vượt qua một dòng sông nhỏ gầy chỗ rộng nhất chưa đến 200m; hay bước qua vạch sơn trắng oan nghiệt này?...

"Trong những ngày xuống đường tranh đấu đòi thống nhất hai miền của phong trào học sinh sinh viên Huế nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường có lần cùng bạn hữu đã bơi ra giữa dòng Hiền Lương ôm lấy trụ cầu uống một ngụm nước rồi hét to: "Hoà bình cho Việt Nam! Hoà bình cho Việt Nam!". Rồi sau đó Hoàng trở về Huế nhảy rừng làm kháng chiến... Cùng thời đó ở bên bờ Bắc có ông nhà văn Hà Nội là Nguyễn Tuân lặn lội từ núi rừng Tây Bắc mỏ than Quỳnh Nhai đảo Cô Tô tuốt thẳng vào Vĩnh Linh. Nhấm một hạt tiêu cay nồng Nguyễn đi khắp "Khu phi quân sự" gặp những bà mạ những o những eng những đồng chí bộ đội giới tuyến mà hỏi chuyện mà ghi chép. Rồi sau đó Nguyễn đã cống hiến cuộc sống những trang văn chất đầy nỗi hờn căm ngùn ngụt vào cái thằng Mỹ thằng Diệm đang tâm chia cắt đôi bờ xót xa lắm lắm cho cây cầu Hiền Lương tội tình chi mà nỏ có bóng người qua lại?".

Kể với sông Hiền Lương của tôi câu chuyện này vì những bậc ký tài ba Hoàng Nguyễn từng kể về sông rất nhiều đã gây vô vàn là rung động trong muôn người... Còn với sông có khi sông nỏ nhớ mô! Nhìn sông vô tâm thế kia lấp lánh bàng bạc trong những đêm trăng muối... Đấy là thứ ánh trăng đẫm hơi muối từ biển Cửa Tùng phả lên trộn lẫn vào những sương mơ dịu dịu trên gương mặt sông. Còn thứ muối hoa (chữ của Nguyễn Tuân) trên những cánh đồng muối Di Loan xưa nữa vẫn còn bảng lảng trên Khu phi quân sự xưa không tan đi không tan... Đồng muối Di Loan chừ chỉ còn trong nỗi nhớ nhưng còn cái ánh hoa muối rực lên dưới nắng cái hơi hoa muối còn bảng lảng trong đêm sâu thấm lên đầu lưỡi thì e đấy chính là vị máu! Đồng muối Di Loan sát ngay cạnh Bến đò "B". Bến đò này trong những năm chiến tranh là nơi tiễn người Việt qua sông vào Nam chiến đấu. Người đi không trở lại... người thì qua có người không qua nổi một lần đò mà hi sinh ngay tại bến sông. Nhiều lắm! Dân làng Di Loan cặm cụi lấy nước sông Hiền Lương nước biển Cửa Tùng mà làm muối. Nước đã thấm máu rồi làm sao gạn được? Thế là cái chất máu của bao người trai trẻ đã theo vào hạt muối trắng trinh trong... Đến chừ dù đồng muối Di loan đã bị chiến tranh tàn phá không còn nhưng những tính chất đặc biệt của loài muối hoa Di Loan đó thì vẫn còn vẫn vương vấn trong không gian "Khu phi quân sự" khi xưa. Tôi nhớ đến Long người bạn của tôi đã hy sinh ngoài biển Trường Sa năm 1989. Sau khi Long hi sinh mỗi lần tôi ra biển bỗng dưng lại nhớ đến Long thấy nước biển xanh mà nghi ngờ không thật lắm vì dù răng đi nữa biển Đông cũng thấm thêm giọt máu Long rồi... Long chính là trai làng Di Loan đó...

Chuyện Long hi sinh ngoài Trường Sa e rằng sông không biết? Cũng chẳng có gì lạ đâu hồi chiến tranh khốc liệt người Vĩnh Linh giới tuyến đã trằn lưng mà gánh chịu đạn bom. Tính ra mỗi đầu người "lĩnh" tám tấn bom đạn các kiểu. Rồi người Thanh người Nghệ... đã từng vô đây chung nỗi gian truân. Chiều ăn vội bát cơm độn sắn độn khoai đêm vượt sông vô Gio Linh Cửa Việt đánh đồn giặc. Nhanh thì sáng hôm sau trở về; chậm thì phải vài ba ngày nhưng chẳng bao giờ về đủ. Hẳn là có người đã nằm lại chỉ thương bác lái đò o giao liên chở quân đi quân về lần mô cũng hỏi: "Răng mà chỉ còn chừng ni chú thôi hả?". Lần mô cũng hỏi rứa thôi mà không ai trả lời được. Ôi chao có khi những hi sinh thật cần thiết thật lớn lao nhưng sao khó trả lời! Họ nhìn vào sông đấy... Chuyện ni thì sông nhớ... Rồi đến cái năm đó chộn rộn ngoài Trường Sa máu Việt lại đổ ngoài Trường Sa thì Long bạn tôi đã anh hùng nằm xuống. Bạn tôi hoá thân vào biển cả thì cũng giống như người Vĩnh Linh hoá thân vào đất đỏ ba-zan tất cả để cho xứ sở mình mặn mòi một thứ muối chiết ra từ máu. Để cho người ta mỗi khi đến đây đi trên đất này thấy cái bàn chân nó nóng rẫy lên rằng đến gieo trồng xây nhà dựng cửa thì được chớ đừng đem gươm giáo vào cắm xuống sẽ không yên!".

Một thời gian dài tôi sống trên biển Cửa Tùng tức là nơi cái Vĩ tuyến 17 bắt đầu chạm vào Biển Đông. Nhà tôi ở nằm ngay trên nền móng cũ của Đồn Liên hợp Cửa Tùng đối diện với đồn cảnh sát Cát Sơn bên bờ Nam xưa. Từ chỗ tôi nhìn qua bên nớ mỗi sớm thấy trắng cát và dương thuỳ đương xanh. Dân Cát Sơn đi chợ Do đứng đợi đò nơi cái lưỡi cát dịu dàng đằm thắm: "Chao răng mà cái móng cửa năm ni dài ra dữ rứa hè?". Móng cửa chính là cái lưỡi cát doi cát dịu dàng đằm thắm đó. Mỗi mùa nó lại khác thành ra cửa sông Hiền Lương lúc rộng lúc hẹp. Cái lưỡi cát dịu dàng ni từng đã in nhiều dấu chân của người lính hai miền sang thay phiên gác ngày xưa theo quy chế "Khu phi quân sự". Rồi ông nhà văn Nguyễn Tuân đã nhìn thấy cảnh này: "Mỗi ngày nước thuỷ triều biển Cửa Tùng dâng lên lại xoá đi những vết chân hai người lính hai chế độ in dấu trên cát sông của cả hai bờ". Thiên nhiên vô tư rộng lượng và nhân từ đã mặc nhiên xoá đi... Đấy chính là ý nguỵên của thiên nhiên! Ý nguyện của thiên nhiên suy cho cùng là ý nguyện của Nhân Dân! Ý nguyện của Nhân Dân có khi có lúc vào một thời khắc lịch sử chỉ giản dị là một dòng sông nhỏ gầy chảy vô tâm giữa hai bờ đất đai xứ sở và đừng ai bận tâm...

Ở đảo Cồn Cỏ vào ngày trời trong buổi chiều ngắm vô đất liền Cửa Tùng thấy sông nhuốm màu hoàng hôn đỏ thắm; rồi nghĩ rằng nếu con thuyền nào ra biển lúc ấy hẳn sẽ được tắm một màu đỏ ý nghĩa. Chỉ là là một vết đỏ mảnh mai nơi đường chân trời nhưng đã cho tôi hình dung trong bao thế kỷ hôm nay và mai sau cái vết đỏ ấy sẽ mãi mãi tồn vinh không tan được cùng với hơi hoa muối đồng Di Loan không tan được cùng với những giọt nước mắt khổ đau của người hai bên bờ Hiền Lương.

Hai bên bờ Hiền Lương là đất đai nước Việt Nam. Hai bên bờ Hiền Lương có người mẹ nghèo đêm đêm trong căn hầm kèo tăm tối bên ánh sáng mờ đỏ quạch chiếc đèn dầu hoả mẹ ngồi vá cờ Tổ quốc. Lá cờ Tổ quốc rộng 108 mét vuông nặng lắm sức mẹ đã già tay mẹ đã run... Thế mà đêm đêm mẹ cứ miệt mài chăm chỉ cho Tổ quốc vẫn nguyên lành trên đỉnh cột cờ cao 34 5 mét nơi đầu cầu giới tuyến cho đồng bào bên nớ mỗi sớm ra sông gánh nước nhìn sang thì thấy miền Bắc gần lắm Cụ Hồ gần lắm và cái ngày thống nhất là không thể khác không thể không đến! Để cho bọn địch thấy rằng bom đạn của chúng là không thể nào huỷ diệt nổi... Tên mẹ là Nguyễn Thị Diệm ở thôn Hiền Lương xã Vĩnh Thành. Mẹ giờ đã không còn... Năm 1992 sức lực cạn kiệt mẹ dặn con cháu: "Tau chết bay cho tau nằm ngoài Cồn chỗ nớ trống trải... Khi mô Nhà nước xây lại Cột cờ Hiền Lương tau nhìn...". Mẹ Diệm đã được con cháu đặt nằm ngoài Cồn đúng như ý nguyện của mẹ nhưng còn lá cờ to hơn trăm mét vuông thì xin mẹ lượng thứ xin mẹ chờ thêm một thời gian nữa dù là đã quá muộn màng... Khi mô xây xong cụm di tích - tượng đài Cầu Hiền Lương mẹ sẽ thoả lòng mà ngắm lá cờ to đúng bằng lá cờ ngày xưa của mẹ... Bóng cờ đỏ thắm sẽ trải đến nơi mẹ nằm bóng cờ sẽ in xuống dòng Hiền Lương. Mẹ hãy tin là như thế bởi đó cũng là một ý nguyện của Nhân Dân mẹ nờ...

Tháng Tư này đã tròn 30 năm Tổ quốc toàn vẹn thống nhất từ Bắc chí Nam. Xe qua cầu Hiền Lương mới hôm nay chỉ mất cỡ chục giây đồng hồ phóng thẳng không cần giảm tốc độ. Cầu Hiền Lương mới được khánh thành tháng Tư năm 1999 là chiếc cầu hiện đại thi công bằng công nghệ đúc đẩy mặt cầu rộng thênh thang phẳng lỳ. Ban đêm đèn cao áp sáng bừng một khúc sông. Tôi được biết trong số thợ cầu có những người từng đi B từng vượt sông Hiền Lương ở một quãng sông nơi thượng nguồn hạ nguồn trong những đêm chiến tranh. Thật tiếc đã không gặp được họ để hỏi han trò chuyện rồi ngắm chiếc cầu Hiền Lương màu trắng đang vươn qua dòng sông như một cánh tay người Việt. Và bên đó vẫn còn im lìm chiếc cầu sắt "Be-lây" thương nhớ bùi ngùi vừa được phục hồi nguyên dạng chiếc cầu cũ năm xưa. Hai chiếc cầu cùng trên một khúc sông chỉ cách nhau vài mét. Hai chiếc cầu Hiền Lương cùng in bóng mình xuống dòng Hiền Lương trong bóng nước không thể phân biệt đâu là cầu bê tông đâu là cầu bằng sắt. Cả hai bóng hai cầu đều xao động trong sóng nước cùng chụm đầu vào phía bờ Bắc thành hình chữ V đậm nét...

Trời trưa tháng Tư nắng gắt gió Lào thổi về ngùn ngụt từ Trường Sơn vậy mà vẫn có đoàn xe hoa lộng lẫy qua cầu. Đám cưới mùa này e là vất vả nhưng tình yêu thì kể gì năm tháng? Lại nhớ đến đám cưới xưa cách xa đúng 30 năm đám cưới mà nhà thơ Cảnh Trà đã tình cờ theo dòng đưa dâu ấy... Trong bao nhiêu năm bao nhiêu đám cưới qua cầu? Tôi ước ao chi giờ được gặp lại họ chàng trai Gio Linh và cô gái vùng Cùa ấy để biết bây chừ họ sống ra sao chắc là hạnh phúc?

Và tôi nhớ đến cái đám cưới cách chúng ta mười thế kỷ nàng Huyền Trân biền biệt ra đi để lại vùng đất Ô Lý hiểm trở dằng dặc nhớ thương nơi địa đầu Tổ quốc. Chao ôi lịch sử đã bắt đầu bằng một câu chuyện tình...

Trần Hoài