Chợ Thuận xưa và nay...

Giữa không gian cây lá ngan ngát rơn ngợp một màu xanh trải dài vô tận của đồng bằng Triệu Phong một ngôi chợ ngày ngày vẫn thở hít nhịp sống quen thuộc đầy nhộn nhịp của mình: chợ Thuận. Bên hói Thuận xanh um bèo Nhật Bản một bãi đất bằng rộng hơn một mẫu đất dùng làm bãi chợ. Trước mắt là một bức tranh quê rõ nét của nông thôn miền Trung. Nông sản dồi dào của miệt vườn nhún nhẩy theo nhịp uốn cầu vồng của chiếc đòn gánh mềm mại trên gót chân những người phụ nữ miền quê đã thấp thoáng khi sương sớm còn giăng mắc vật vờ trong lũy tre làng. Từ những nông sản gạo khoai ngô đậu lạc cho đến các thực phẩm tươi rau quả gà vịt cá... ở đây đều chu chuyển theo quy luật cung cầu của thị trường. Có cái cần phải bán đi để lấy tiền mua những cái khác. Nói chung trong điều kiện kinh tế cơ bản vẫn là nông nghiệp điều kiện địa lý vẫn như xưa với địa điểm này của cánh đồng - vẫn tái hiện bức tranh từ nghì xưa - đổi chác là một nhu cầu bức thiết để duy trì cuộc sống thường nhật tồn tại.

Xưa kia chợ Thuận thuộc xã Triệu Thuận nhưng sau này lại về Triệu Đại để tiện khoanh vùng đất đai và quản lý hành chánh cho hai xã. Chi tiết này xem ra rất bình thường nhưng lại là một minh chứng có nguồn góc sâu xa trong lịch sử cần nêu ở đây và lát nữa sẽ đề cập.

Theo tục truyền đặt tên Thuận cho chợ bở nó rất "tiện đường". Quả có thế thật. Đường hàng huyện bắt đầu từ Gia Độ trẩy ngang qua chợ và cắt tỉnh lộ 64 (từ Quảng Trị về Cửa Việt) ở phía nam chợ 1km.

Thức ra chợ Thuận có khởi nguyên rông lớn hơn nhiều ý nghĩa đã từng tồn tại. Nghĩa hiện nay chỉ phản ánh một thế mạnh một khía cạnh tích cực về mặt địa lý khả dĩ làm chợ tồn tại. Các nhà nghiên cứu tiền bối Léopold Cadière A.Labordo đã từng dừng lại chợ này như một gợi ý khái quát chứ chưa dám đi sâu vào chi tiết. Cách nhìn của những người này đều bắt nguồn từ một nghi vấn ngày càng rõ nét hơn: Phải chăng tên Thuận hiện nay có những gắn bó máu thịt với châu Thuận thời xa xưa?

Nay ta hãy đọc lại đoạn miêu tả ngôi chợ cùng tên chép trong Ô Châu Cận Lục (OC):

"Chợ Thuận

"Ở ranh giới huyện Hải Lăng và Vũ Xương

"Từ sông cái ở tây nam một nhánh sông con chảy về trên nhánh này là một nhịp cầu dài bắc ngang. Phía nam cầu là lều quán bày la liệt. Nào huyện lỵ nào thành trì hai phía đông tây đối mặt nhau. Cả thuỷ lẫn bộ hai đường đều tiện lợi.

"Đây là nơi hội tụ đông nhất của Châu Thuận".

(Trích OC quyển IV: Các thành trì và chợ búa từ 69b).

Khi nêu giả thiết chợ Thuận hiện nay có phải là chợ Thuận của OC không tức là gián tiếp ta đã đặt ra một phương trình có tham số trong đó ẩn số - chợ Thuận - được giả định là có. Vấn đề còn lại là xem xét đâu là điều kiện để các tham số hiện hữu được không?

Điều kiện đầu tiên: Ranh giới chợ Thuận thời OC ở giữa hai huyện Hải Lăng và Vũ Xương.

Ranh giới hai huyện Hải Lăng và Triệu Phong ngày nay - tên Triệu Phong đã có một quá trình đổi thay từ các tên cũ: Vũ Xương Đăng Xương Thuận Xương - không thể chạy qua chợ Thuận. Đường ranh này đã hình thành cách đây ít ra là 150 năm khi tham khảo các tư liệu của triều Nguyễn: - bản đồ soạn khoảng 1853-1873 - bản đồ soạn khoảng 1874-1886 các bộ Đại Nam Nhất Thống Chí soạn năm 1875 và 1907. Ranh giới trong tất cả các tư liệu kể trên đều trùng với đường biên hiện nay.

Đường ranh hàng huyện này có những đặc điểm nhất định. Nó chạy song song với biên giới các tỉnh tức là song song với trục vĩ tuyến. Như vậy sẽ tạo sự phân bố tương đối đồng đều giữa các huyện vùng núi và biển đống khung đất đai và cư dân trong những ô hình học. Tính đặc thù của mỗi huyện như thế sẽ xoá nhoà các tiêu chí phân chia khác đã hình thành từ trước chẳng hạn như mật độ dân cư và vùng đất màu mỡ nhất sẽ tập trung vào một huyện.

Tuy vậy đoạn văn OC trên lại hợp lôgích khi xét lại đường ranh cũ. Qua việc qui chiếu lại danh sách tên các làng xã hai huyện Hải Lăng và Vũ Xương có trong OC ta thấy rằng các làng của hai huyện này ken nhau cái răng lược giữa cánh đồng Triệu Phong  hiện nay vốn là một vùng đất trù phú phát triển mạnh nhất về dân số lẫn nền nông nghiệp trồng lúa nước.

Không riêng gì thời OC năm 1855 hộ hành chánh cũ này vẫn tiếp tục tồn tại qua nhiều thế kỷ sau đó khi sét lại danh sách làng xã cũng của hai huỵên trong Phủ Biên Tạp Lục năm 1877 và chính xác hơn nữa là địa đồ các làng lập thời Gia Long năm 1814. Tập hợp các làng thành những "vệ tinh" quay quanh chợ Thuận có thể liệt kê lên đây theo hệ thống hành chánh cũ - Võ Thuận Vệ Nghĩa Phúc Lộc Duy Hoà Đầu Kênh thuộc huyện Hải Lăng. Đại Hào Vân Hoà thuộc huyện Vũ Xương. một chi tiết đã nhắc ở trên là chợ thuận nay thuộc Đại Hào (Triệu Đại) nhưng xưa kia vốn thuộc Võ Thuận (Triệu Thuận) được xem như một bằng chứng có nguồn gốc lịch sử bằng chợ ở giữa ranh giới hai huyện. Trên bản đồ hành chánh cũ khi khẽ lách ngòi bút một chút thôi là khu chợ ở huyện nọ chuyển sang huyện kia điều mà các tác giả OC chỉ cô đọng trong một câu 7 chữ hết sức súc tích: "Tại Hải Lăng Vũ Xương nhị huyện".

Phương pháp lập luận như vậy đã nảy ra vấn đề là có việc phân chia lại huyện hạt do đường ranh của hai huyện Hải Lăng Triệu Phong xưa và nay khác biệt nhau. Thật vậy đường ranh cũ chạy song song với bờ biển và gần như thẳng góc với đường ranh mới là kết quả của những đổi thay diên cách đã tưng diễn ra trong tiến trình lịch sử. Vấn đề cần tìm hiểu sâu thêm là vào thời điểm nào xảy ra sự xáo trộn đó? Nếu có thời gian đi đọc các văn kiện cũ còn lại ở làng thì rõ. Còn đây ta tạm phỏng đoán rằng việc này diễn ra năm 1831. Đại Nam Nhất Thống Chí cuốn sách viết về địa lý triều Nguyễn không nó rõ còn Đại Nam Thực Lục (TL) bộ sử chép theo lối biên niên của triều Nguyễn có chép lại năm này. "1831 tỉnh Quảng Trị có phân chia lại ranh giới hai huyện Hải Lăng và Đăng Xương" (theo TL tập X tr. 355).

Tiếp tục ta xét đến các điều kiện địa lý khác về chợ xưa trong OC. "Một sông con bắt nguồn từ sông cái ở tây nam sông con này tạo thành một đường sông đến chợ Thuận kết hợp với đường bộ cùng hội tụ ở đó".

Nếu nhìn trên bản đồ UTM ta thấy ngay "sông cái" là sông Thạch Hãn còn "sông con" chính là hói Thuận hiện nay. Sông Thạch Hãn chạy ở phía tây nam va xuất phát điểm của hói Thuận hiện nay. Sông Thạch Hãn chảy ở phía tây nam và xuất phát điểm của hói Thuận từ sông này cũng hướng đó nếu lấy điểm ngắm từ chợ Thuận.

Hói Thuận được xem như một chi lưu tách khỏ dòng Thạch Hãn ở làng Đại Lộc. Nó chảy vòng vèo giữa cánh đồng Triệu Phong dài 4 5km trước khi đến chợ dừng lại gây lát làm một cuộc ghé thăm ngắn trước khi êm ả chuyển mình tiếp tục chuyến viễn du về những bến bờ nào đó xa xôi hơn. Khoảng cách ngắn nhất theo đường chim bay từ cửa hói đến chợ là 3km. Những cần giải đáp một thắc mắc tại sao OC vẫn miêu tả rất chính xác là cửa hói Thuận lại ở tây nam sau khi nó loanh quanh giữa đồng bằng đầy lùm bụi đã mất hẳn phương hướng?.

Nguyên nhân như tục truyền xưa kia hói này là một thuỷ lộ rất đông vui nhôn nhịp. Ghe thuyền giữa một vai trò quan trọng trong việc vận tải những mặt hàng gia dụng các nhu yếu phẩm cho chợ Thuận. Hiện nay trong vùng vẫn còn để lại những dấu ấn rất rõ nét là các đình lang đền miếu nhà thờ họ đều hướng về hói Thuận như đang đứng xem cảnh bến sông còn tấp nập ngày nào. Chợ Thuận nằm trên ngã ba hói Thuận và hói Mỹ Lộc tạo nên mạng lưới đường sông từ nay có thể xuôi nam ngược bắc hoặc xuống Cửa Việt hoặc vào Huế hoặc lên nguồn xuống biển tuỳ tiện. Điều OC mô tả "trên sông là nhịp cầu dài bắc ngang còn phía nam cầu là chợ" chứng tỏ nhịp cầu hồi xưa không phải bắc qua hói Thuận mà là băng qua hói Mỹ Lộc để nối liền con đường từ Gia Độ băng ngang qua chợ Thuận. "Đường bộ cũng rất tiện lợi" trong OC tức là muốn nói đến con đường hang huyện này. Phải đặt nó trong bối cảnh đị lý cùng khung cảnh lịch sử đương thời mới thấy đây là tuyến đường bộ hệ trọng nhất - đường "xuyên Việt" của thời xa xưa ấy.

Hói Thuận hiện nay đã vĩnh viễn đánh mất khả năng vận chuyển một nhiệm vụ tích cực nhất đã từng làm lừng lẫy một thời. Nguyên nhân không những vì ghe thuyền đã biến mất và những phương tiện đường sông bằng đò dọc đã xếp xó từ lâu do sự cạnh tranh của ôtô tàu lửa xe đạp mà còn vì một hệ dòng chảy mới nữa chụp lên nó là là các kênh của công trình thuỷ lợi Nam Thạch Hãn hệ thống mới này đã chia cắt hói Thuận thành những vũng nước tụ đọng đầy cỏ lác và bèo. Bây giờ vẫn còn những nếp chùa miếu trống trải lộng gió trầm ngâm vời vợi nhìn về lạch nước lắng nghe ngọn cỏ lồng rì rào để nối tiếc dĩ vãng xa xăm oanh liệt.

Tiếp tục những điều mô tả trong OC: "Nào là huyện Hải Lăng huyện Vũ Xương nào thành Thuận đều phân bố đối mặt nhau ở đây. Quả là một địa điểm đông đúc nhất của châu Thuận". Tất cả những điều này đều xác nhận đây là thủ phủ của châu Thuận xưa. Trong phạm vi bài báo này chỉ có thể trả lời những điều trên là có thực và xin gác lại để giả quyết trong một bài báo khác: "thành Thuận Châu".

Có đúng không khi xem số người đông chợ hơn một nghìn người hiện nay cũng là một độ đông chợ thời xưa ấy? Các bùng nổ về dân số và nạn nhân mãn ở Bắc Bộ đã được phương nam giả quyết tiếp nhận. Dãi đất hẹp miền Trung chỉ đống vai trò một chiếc ống của bình thông nhau có tác dụng như một phương tiện chuyển tải với áp suất và dung lượng hạn chế. Chợ Thuận xưa đông đúc vì nó là chợ chính đúng hơn là chợ của thủ phủ là trung tâm chính trị và kinh tế của một vùng tương đương với tỉnh ngày nay. Vị trí chủ đạo đó nay không còn nữa vì thủ phủ đã dời đi chỗ khác từ lâu nhưng về tầm cỡ kinh tế chợ vẫn giữ cho huyện - ít ra của 4 xã: Triệu Đại Triệu Thuận Triệu Long Triệu Hoà. Tầm vóc kinh tế có được hiện nay là do bố cảnh địa lý không thể thay thế được của chợ. Điều này đưa đến so sánh rằng sự xuống cấp của ưu thế chính trị được đền bù bằng việc tăng dân số trong mấy trăm năm nay để cho lượt người đông chợ không thay đổi.

Có thể thêm rằng trên dải đất 4 tỉnh miền Trung Trung Bộ còn đây một trường hợp hãn hữu nhất một ngôi chợ xưa độc đáo nhất vẫn giữ nguyên tên gọi cùng nhịp độ sinh hoạt của mình trong một thời gian dài hơn bốn thế kỷ nay.

PHƯƠNG VĂN

* Bài của tác giả Phương Văn (tạp chí Cửa Việt số 3 năm 1990)
Nguồn: phucloc.vnweblogs.com